Thứ Tư, 27 tháng 10, 2010

Mệt như viết Essay!

Mình vừa sáng tạo ra một thuật ngữ mới "Mệt như viết essay". Đúng vậy, có lẽ viết essay là một trong những công việc thử thách nhất, và khi viết xong thì cũng cảm thấy thoải mái nhất. Đúng là một việc khổ hạnh (vừa khổ vừa hạnh phúc). Lúc bình thường thấy từ nào cũng quen, nhưng đến lúc ngồi vào viết thì tự nhiên chữ nghĩa nó đội nón ra đi hết, chỉ còn lại mình và cái laptop, thật khổ, hic. Biết đến bao giờ mới có được một bài báo khoa học đúng nghĩa đây. Ôi tiếng Anh, ôi khoa học! Thôi kệ, vui với tiến bộ hàng ngày là được rồi!

Thứ Năm, 21 tháng 10, 2010

Trở lại nhà xưa!

Lâu rồi mình không còn thói quen viết blog nữa, do không có thời gian, do không còn cảm hứng hay do ...sợ. Chắc là lí do này rồi. Viết còm men lung tung có khi lại bị điều tra vì tội trốn thuế nữa không chừng (mặc dù mình chẳng có thuế để trốn), nhưng biết đâu được, ở cái xã hội này chuyện gì cũng có thể xảy ra. Thôi thì cứ làm việc và cày Anh văn thôi. Trình độ Toefl iBT của mình dạo này cũng khá...ngon, nếu quyết tâm thì năm sau chắc mình cũng kiếm được kha khá điểm. Thôi tìm đường xuất dương cho rồi, tìm về nơi của tự do tư tưởng và một môi trường học thuật thật sự (trái ngược với khoa học giả cầy). Đi cũng là cơ hội để cải thiện kinh tế gia đình, nhưng mục tiêu cuối cùng của mình là gì nhỉ, vẫn là phụng sự xã hội, nhưng GS Nguyễn Văn Tuấn chẳng hạn. Làm một con người tự do, một nhà khoa học trung thực, một hành giả tinh tấn and so on, hehe.

Thứ Năm, 11 tháng 2, 2010

Cách nhìn tạo ra số phận!

Trung Quốc trong mắt Nhật Bản, cách nhìn tạo ra số phận

Nguyễn Lương Hải Khôi

Thử nhìn lại lịch sử, tham chiếu Nhật Bản, một nước cũng là láng giềng Trung Quốc như Việt Nam, nền văn minh cũng sinh sau đẻ muộn như Việt Nam, và quy mô quốc gia cũng nhỏ bé như Việt Nam, đã định vị Trung Quốc như thế nào trong một bối cảnh lịch sử tương tự như Việt Nam.

Bauxite Việt Nam

LTS Tuần Việt Nam: Thế giới, đặc biệt là các nước ở châu Á, xem sự trỗi dậy của Trung Quốc có tính cách thời đại, đang bàn thảo sôi nổi về tác động này. Định vị Trung Quốc đang trở thành một chủ đề nóng ở nhiều nước trong khu vực.

Bài viết dưới đây đưa ra một góc phân tích về cách nhìn Trung Quốc của Việt Nam và Nhật Bản thời phong kiến. Đây là góc nhìn riêng của tác giả cần được tranh luận, làm sáng tỏ thêm. Mời bạn đọc phản biện bài viết này.

Nếu như lịch sử hiện đại của các nước Đông Á (Việt Nam, Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản) là lịch sử quan hệ với Phương Tây, thì trong các thời kỳ tiền hiện đại, lịch sử của Việt Nam, Triều Tiên và Nhật Bản là lịch sử của mối quan hệ với Trung Quốc.

Trong thời đại ngày nay, khi Trung Quốc đang ôm tham vọng giành lại vị trí lịch sử đặc biệt trước đây. Để định vị chính mình, Việt Nam không thể không định vị Trung Quốc. Chúng ta hãy thử nhìn lại lịch sử, tham chiếu Nhật Bản, một nước cũng là láng giềng Trung Quốc như Việt Nam, nền văn minh cũng sinh sau đẻ muộn như Việt Nam, và quy mô quốc gia cũng nhỏ bé như Việt Nam, đã định vị Trung Quốc như thế nào trong một bối cảnh lịch sử tương tự như Việt Nam.


Trung Quốc trỗi dậy. Ảnh: Reuters.




Trung Quốc không phải là "thiên triều"


Nước ta suốt nghìn năm, mỗi khi Trung Quốc xâm lăng thì ngoan cường tuyên bố "Nam quốc sơn hà Nam đế cư", nhưng thắng họ rồi thì lại đều đặn triều cống, các Vua mỗi khi lên ngôi thì luôn xin "thiên triều" phong tước, tự coi mình là nước nằm trong vòng ảnh hưởng của Trung Quốc.

Trong con mắt Nhật Bản, Trung Quốc không may mắn có cái vị trí ấy. Trong suốt lịch sử trung đại, không có bất kỳ một ông Nhật hoàng nào cử sứ giả sang Trung Quốc xin tước phong. Ngay trong bức thư đầu tiên gửi Tùy Dạng Đế để thiết lập quan hệ ngoại giao, thái tử Shotoku đã mở đầu: "Thư này là thư của thiên tử xứ mặt trời mọc gửi thiên tử xứ mặt trời lặn".

Trung Quốc dĩ nhiên là tức giận, nhưng phải chấp nhận. Rồi dần dần thành quen, và... chấp nhận vĩnh viễn.

Với chúng ta, chỉ khi nào bán nước như Lê Chiêu Thống thì mới bị nguyền rủa, còn "nộp cống xưng thần" là chuyện nhỏ, ngay cả với Lê Thái Tổ hay Quang Trung. Ở Nhật Bản, Ashikaga Yoshimitsu (cuối thế kỷ 14), là vị Shogun (tức "tướng quân", dưới quyền Nhật hoàng) duy nhất trong lịch sử Nhật nhận tước phong của Trung Quốc. Và chỉ có thế, cái tên của ông này đã bị lịch sử Nhật Bản muôn đời nguyền rủa như một vết nhơ khó rửa của dân tộc.

Như vậy, ngay cả khi không hề có chiến tranh, họ vẫn thiết định một tư thế bình đẳng trong ngoại giao.

Đừng nghĩ rằng vì Việt Nam quá gần Trung Quốc mà đành nhân nhượng. Chỉ cần xem quá trình Vương An Thạch phải mất nhiều năm chuẩn bị cho cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt năm 1076 là rõ. Thời đó, chuẩn bị một cuộc chiến tấn công Việt Nam không hề dễ dàng.

Việt Nam lựa chọn như vậy về mặt chính trị, vì một nguyên nhân văn hóa: chúng ta chấp nhận văn hóa Trung Quốc là một "khuôn mẫu đỉnh cao", do đó, dù kháng chiến ngoan cường để giữ độc lập trong thực tế, nhưng về mặt chính trị, lại chấp nhận mình thuộc vùng ảnh hưởng của nó.



Vậy, tiếp theo, ta thử xem Nhật Bản trước đây nhìn văn hóa Trung Quốc như thế nào.

Trung Quốc không phải là khuôn mẫu

Nhật Bản dĩ nhiên thừa nhận Trung Quốc là một nền văn minh rực rỡ và học tập nó hết mình, nhưng khác Việt Nam, Nhật Bản không cho phép Trung Quốc trở thành khuôn mẫu. Có thể thấy sự lựa chọn này ở tất cả những lĩnh vực chủ yếu của nền văn hóa.

Cắm rễ trên nền tảng văn minh nông nghiệp lúa nước Đông Nam Á, Việt Nam dĩ nhiên có một bản sắc khác biệt với Trung Quốc, ngay từ cội rễ. Nhưng ta thử nhìn vào phần văn hóa bác học, phần được tầng lớp tinh hoa dân tộc du nhập về và "đặt chình ình" vào giữa cơ thể dân tộc.

Là một nước đi sau, Việt Nam muốn bắt kịp Trung Quốc. Nhưng ít nhất là từ thế kỷ XV trở đi, chúng ta có một cách nhìn lạ lùng: không thua Trung Quốc nghĩa là... không khác Trung Quốc.

Bị dẫn dắt bởi cách nhìn này, những sáng tạo của chúng ta thật đáng tự hào, nhưng chỉ có điều, ở khá nhiều lĩnh vực chủ yếu, chưa bao giờ vượt ra ngoài "chiếc hộp Trung Quốc". Tổ chức khoa cử như Trung Quốc. Sắp xếp bộ máy nhà nước như Trung Quốc. Dùng hoạn quan như Trung Quốc. Viết chữ Hán như người Trung Quốc viết... Xây dựng Văn Miếu, biểu tượng của nền văn hiến nước nhà, chúng ta không dám làm bất kỳ chi tiết nào khác với Khổng miếu ở Trung Quốc.

Văn miếu (Việt Nam) xây dựng từ thế kỷ 11. Khang Hy ở thế kỷ 17 đến thăm Khổng miếu (Trung Quốc), viết 8 chữ "Vạn thế sư biểu. Khang Hy ngự thư". Chúng ta cũng lật đật làm một tấm bảng y như vậy để treo ở nhà mình, đến nỗi Hồ Cẩm Đào ở thế kỷ 21 này đến thăm Văn miếu (Việt Nam), nhìn 8 chữ ấy, từng bối rối vì ngỡ đang... ở nhà.

Ngay cả trong những sáng tạo nhằm mục đích phân biệt mình với Trung Quốc, chúng ta cũng sáng tạo trong khuôn khổ của Trung Quốc: sáng tạo chữ Nôm, nhưng theo đúng những nguyên tắc của chữ Hán, bắt buộc những ai muốn học chữ Nôm thì phải học chữ Hán trước.

Nhật Bản thì không cho phép Trung Quốc có vinh dự là một lò gạch để đúc nên những cục gạch giống nhau. Họ không tổ chức khoa cử như Trung Quốc. Không xây dựng hệ thống nhà nước như Trung Quốc. Không dùng hoạn quan như Trung Quốc. Dùng chữ Hán, nhưng ngay trong cuốn sử đầu tiên, "Cổ sự ký", họ phá vỡ mối quan hệ giữa âm và nghĩa của chữ Hán để viết một thứ chữ Hán mà người Trung Quốc... không đọc được.

Suốt hơn một nghìn năm độc lập phong kiến và tự chủ khi học hỏi Trung Quốc, Việt Nam có nhiều sáng tạo độc đáo, rất riêng, nhưng không có những đóng góp khiến Trung Quốc ngày nay nhìn lại mà hổ thẹn.

Chúng ta không thể làm điều đó, vì ngay từ xuất phát điểm là cách nhìn và cái nhìn, "chữ thánh hiền" là chữ Trung Quốc, "người thánh hiền" là người Trung Quốc, nhìn chung, mọi hình mẫu đều nằm ở Trung Quốc.

Vậy chúng ta thử nhìn xem ông bạn Nhật kia học Trung Quốc bằng thái độ văn hóa nào.

Trả ơn thầy bằng cách giỏi hơn thầy

Các bậc đại Nho của chúng ta coi mọi điều hay lẽ phải đã được "thánh hiền Trung Quốc" nói hết cả, mình không cần phải lập thuyết làm gì, chỉ cần sống sao cho đúng.

Ở Nhật Bản xưa, các nhà Nho được tôn vinh là bậc đại Nho là những người dám làm một việc mà đối với các nhà Nho Việt Nam là không thể chấp nhận được: phủ định triệt để thánh hiền Trung Quốc, để xây dựng một cách nhìn và cái nhìn một mới về nhân sinh.


Ảnh: 2m.au.com

Trong văn hóa Việt Nam, có bậc đại Nho nào của chúng ta khi biện luận mà dám đặt vấn đề một cách "vô lễ" như thế này với thánh hiền Trung Quốc? Sách "Sentetsu Sodan" ("Tiên triết tùng đàm") của Nhật kể về Yamazaki Ansai, bậc đại Nho của Nhật Bản thế kỷ 17, như sau: Một hôm Yamazaki Ansai hỏi các môn đệ: "Nếu bây giờ Trung Quốc cử Khổng tử làm chánh tướng, Mạnh tử là phó tướng, dẫn vài vạn binh thuyền tấn công nước ta. Là học trò của Khổng Mạnh, các trò sẽ làm gì?". Nghe câu hỏi là biết câu trả lời rồi. Các học trò của Khổng Mạnh sẽ phải... chém đầu Khổng Mạnh để báo ơn vua, như chính Khổng Mạnh đã dạy.

Việt Nam thì chỉ có thể chém đầu Ô Mã Nhi, Liễu Thăng, chứ chém đầu cụ Khổng cụ Mạnh thì không dám. Chúng ta không cảm thấy cần phải "đặt vấn đề" về mặt văn hóa với Trung Quốc.

Thế kỷ 17, Nhật Bản có một bậc đại Nho là Ito Jinsai phê phán triệt để Tống Nho: để hiểu Đạo của người, không thể bằng cách nhìn đạo của Trời thông qua Lý, như Tống Nho quan niệm, mà cần nhìn thẳng vào chính cuộc sống đời thường và trần tục này. Họ có những kẻ điên.

Tominaga Nakamoto, đầu thế kỷ 18, còn đi xa hơn nữa, lớn tiếng tuyên bố rằng, đạo Nho là của Trung Quốc, đạo Phật là của Ấn Độ, Thần đạo thì của Nhật Bản nhưng của thời xưa.

Cần một triết thuyết mới cho cuộc sống thực hôm nay. Nakamoto tuyên bố vậy, nhưng chẳng làm được gì cả. Chí nguyện là một chuyện, còn có sáng tạo được cái "triết thuyết mới" ấy hay không là chuyện khác.

Tuy nhiên, điên như Nakamoto là dở cho riêng ông nhưng tốt cho đất nước ông. Khoảng nửa thế kỷ sau, thái độ thách thức cái vị trí đỉnh cao văn hóa của Trung Quốc đã đi đến đích: ngay từ trước duy tân Minh Trị gần một thế kỷ, cậu học trò Nhật Bản có những cống hiến thực sự trong thực tế để dạy lại ông thầy của mình.
Các học phái "Kokugaku", "Rangaku", "Mito"... đã phủ nhận tận gốc vị trí lãnh đạo của văn hóa Trung Quốc, bằng cách chỉ ra những lý luận phi tự nhiên của Nho giáo Trung Quốc, sự cực đoan của học thuyết "thiên mệnh", những sai lầm trong những kiến thức y học Trung Quốc về giải phẫu người...

Học tập Trung Quốc là chịu ơn Trung Quốc. Chịu ơn thầy thì phải trả ơn thầy. Cách trả ơn duy nhất đúng là cống hiến cho ông ấy những hiểu biết mới của riêng mình.

Lời cuối cho một khởi đầu

Sang đến thế kỷ XIX, ở Việt Nam, đáp lại tiếng khóc canh tân thảm thiết của Nguyễn Trường Tộ là cái im lặng đáng sợ của một hoang mạc tinh thần, vì ngay cả khi Việt Nam đã bị Pháp nghiền nát, những ông quan hay chữ trong triều đình Huế vẫn chưa thôi sùng bái Trung Quốc như là "khuôn mẫu đỉnh cao".

Ở Nhật Bản, vì dám thách thức thầy mình về mặt trí tuệ, nên sang đầu thế kỷ XIX, trí thức Nhật không bất ngờ khi thấy Trung Quốc đại bại trước Anh quốc trong chiến tranh nha phiến. Và nhờ thế, họ được chuẩn bị sẵn về mặt tinh thần để đáp lại tiếng gọi canh tân của Fukuzawa Yukichi bằng một nhịp bước quân hành khiến cả bầu trời rung chuyển.

Cách nhìn tạo ra cái nhìn. Cái nhìn tạo ra sự lựa chọn. Sự lựa chọn tạo ra số phận. Số phận thay đổi khi cách nhìn thay đổi.

Người Nhật ngày trước nhìn văn hóa Trung Quốc như thế nào thì sau đó họ cũng nhìn văn minh Phương Tây theo cách ấy. "Học tập Phương Tây, Đuổi kịp Phương Tây. Vượt qua Phương Tây" - đó là tinh thần Nhật Bản suốt từ thời kỳ Duy tân đến nay. Tinh thần này trùm lên mọi lĩnh vực, kể cả văn chương nghệ thuật.
Dĩ nhiên, khi nghe khẩu hiệu này của Nhật Bản, ta sẽ cảm thấy họ lộng ngôn. Bởi "Phương Tây" là cả một thế giới khổng lồ và đa dạng. Nhật Bản không thể so sánh được về mặt quy mô. Nhưng, lộng ngôn thì cũng như... Nakamoto ở thế kỷ 18 là cùng.

Mỗi dân tộc khi tham gia vào dòng chảy toàn cầu hóa đều không thể không định vị quốc gia mình trên bản đồ thế giới. Mỗi người Việt định vị bản thân mình trước cuộc đời như thế nào thì Dân tộc Việt định vị chính nó trước thế giới như thế ấy.
Sức mạnh của một dân tộc thể hiện rõ nhất không phải khi nó đứng ở vị thế của kẻ mạnh, mà khi nó sinh ra, mới ngước mắt nhìn mặt trời đã nhận thấy mình là kẻ yếu.
Một dân tộc yếu khi còn chưa thôi thách thức những đỉnh cao, nó vẫn còn đang sống, đang hành trình. Một dân tộc đã chấp nhận một đỉnh cao nào đó là khuôn mẫu vĩnh viễn, nó là một chiến binh "gục bên súng mũ bỏ quên đời".

Thứ Năm, 24 tháng 12, 2009

Văng hóa mời đám cưới!

Hôn nhân là một sự kiện quan trọng và hạnh phúc của một đời người, điều đó là chắc chắn là đúng rồi (với độ chính xác 95% theo thống kê sinh học). Tuy nhiên, có những kiểu mời đám cưới và cách chọn những nhà hàng mà họ tổ chức tiệc cưới mà những nhân viên (nghèo) như tôi cảm thấy băn khoăn (thật ra là những nỗi ám ảnh thì đúng hơn) mà tôi cảm thấy cần phải viết vài dòng cho đỡ bức xúc. Số là một ông xếp lớn của tôi (lớn lắm) vì từ cấp chuyên viên của tôi đến vị trí ông ấy phải bắc mấy lần thang mới tới lận, thế nhưng trong dịp đám cưới của con ông thì tất cả nhân viên từ anh lái xe đến chị lao công trở lên đều có (bị) thiệp mời. Thế là người ta sẽ tự hỏi làm thế nào mà sếp lại có thể nhớ đến tên của từng nhân viên của mình như thế. Nếu thật như vậy thì hẳn sếp phải là một ...thiên tài. Sau khi tìm hiểu kĩ hóa ra không phải thế. Khi mời đám cưới, sếp chỉ cần mang một xấp thiệp cưới đến và bảo cô nhân viên mang bảng lương ra cứ thế điền tên vào, thế là xong tất tần tật, từ chị lao công đến anh bảo vệ đều được "ưu ái" trở thành khách mời của sếp nhé, đố "thằng nào" dám không đi hoặc không gửi tiền.
Điều thứ 2 tôi muốn nói là nơi người ta tổ chức tiệc cưới. Vẫn biết là đời sống dân ta ( tính trên bình quân) thì hằng năm đều tăng, hay ít ra là vẫn hơn thời kì toàn dân phải ăn bo bo, sắn luộc nhưng mức thu nhập của những phó thường dân như tôi (dù đã được ưu ái lãnh 2 lần lương ThS) thì vẫn chưa đủ sống. Thế nhưng có lẽ các sếp thường thích bài ca "ai cũng hiểu chỉ một mình không hiểu" nên luôn tổ chức đám cưới cho con cháu ở những nhà hàng sang trọng, thậm chí là sang quá mức cần thiết đến nỗi những thằng nhân viên như chúng tôi, dù đã hết sức cắn răng buộc bụng mà khi bỏ vào phong bao chúc mừng đến 5 xị mà vẫn còn cảm thấy ái náy! Ôi cái kiểu tổ cưới tiệc mừng (hay buồn) kiểu này thì đúng là phô trương quá, lãng phí quá và ...vô cảm quá nhưng người ta vẫn cứ tiến hành và chúng tôi vẫn cứ (mím môi) đi. Đúng là một tấn trò đời!

Thứ Năm, 19 tháng 11, 2009

Vài suy nghĩ về bà Trần Ngọc Sương và nông trường sông Hậu!

Năm 2001 khi còn là một sinh viên năm thứ 4 ngành Nông học tại ĐH Nông Lâm, tp. HCM tôi có chuyến đi thực tập tham quan Viện Lúa ĐBSCL và Nông trường Sông Hậu. Khi đó, nông trường còn "nổi tiếng" lắm, qua lời giới thiệu tôi mới biết cả hai cha con của bà Trần Ngọc Sương đều được phong Anh hùng lao động (đó là một vinh dự lớn mà không phải gia đình nào cũng có được), rằng nông trường ngày xưa nghèo lắm khi ông Năm Hoàng tiếp nhận nó, trải qua nhiều phấn đấu nỗ lực cuối cùng ông Năm và bà Sương đã lèo lái con thuyền Sông Hậu vượt qua rất nhiều khó khăn "do lịch sử để lại" và cả những "cơ chế" rất Việt Nam để biến nông trường trở thành nơi an cư lạc nghiệp cho rất nhiều gia đình nông dân sống trong nông trường. Tôi được biết nông trường là đơn vị được phép xuất khẩu gạo trực tiếp và có lẽ nhờ cơ chế "ưu ái" đó nên phúc lợi của người nông dân và con em của họ cũng được khá hơn, ít ra là hơn so với mặt bằng chung quanh. Con em nông dân khi đi học đều được sự hỗ trợ về tài chính của nông trường qua hình thức học bổng. Trải qua mấy năm thì nghe tin bà Sương bị truy tố về tội lập quỹ riêng và nay bà và một số đồng nghiệp đều bị kết án tù, riêng bà thì bị kết án đến 8 năm tù. Đây là một mức án, theo tôi là rất nặng, nếu chưa nói là án oan cho một nữ anh hùng lao động. Tôi không biết khi tuyên án, tòa có xét đến "nhân thân tốt" cho bà hay không?! chỉ biết rằng đó là một mức án quá bất công so với Huỳnh Ngọc Sĩ, khi quy mô và tầm ảnh hưởng của hai vụ án lớn nhỏ như thế nào thì chắc ai cũng rõ. Tôi không biết những "thành tích" của ông Sĩ lớn như thế nào, có bằng một phần mấy của bà Sương hay không mà mức án của ông lại được ưu ái như vậy. Sáng nay đọc báo, thấy có bài hơn 100 chữ ký xin ở tù thay cho bà Sương của nông dân nông trường tôi thấy thật cảm động và ấm lòng. Biết rằng đề nghị đó sẽ không bao giờ được chấp nhận nhưng nó cũng đã thể hiện một điều rằng người nông dân của nông trường luôn biết ơn bà Sương và của ông Năm Hoàng về tất cả những gì họ đã làm cho tập thể nông trường. Những ai được lòng dân sẽ có tất cả dù ngày nay họ đang bị oan khuất, bị trù dập. Tôi mong cho bà luôn vững tinh thần để đón nhận những tai họa này với một thái độ kiên cường, lịch sử rồi đây sẽ phán xét công tội của mỗi người. Mong bà vượt qua nghịch cảnh!

Thứ Năm, 12 tháng 11, 2009

Vài hình ảnh buổi báo cáo!



Định post nữa nhưng mạng chậm quá, thôi thì giới thiệu 2 tấm đại diện vậy!

Thứ Sáu, 23 tháng 10, 2009

Tư duy thời hội nhập!

Các vị lãnh đạo Nước Việt ngày nay luôn hô hào hội nhập toàn diện với thế giới với phương châm "Việt Nam mong muốn là bạn với tất cả các nước". Đó là chuyện xã giao bên ngoài, nói làm sao cho đẹp lòng nhau là được. Nhưng còn thực tế bên trong, hãy xem các vị trong Ban tuyên giáo của chúng ta, những người có vai trò định hướng tư tưởng đối nội và đối ngoại của đất nước nhận định thế nào về một nước đang là đối tác quan trọng của chúng ta về nhiều mặt, ở đây là Hoa Kỳ. Hãy xem ước muốn khép lại quá khứ, hướng tới tương lai của chúng ta mạnh mẽ đến đâu, hay cuối cùng vẫn chỉ là khẩu hiệu...rởm! HTMD

Mấy hôm nay thấy báo QĐND đăng những bài nói về chống “Diễn biến hòa bình” tôi chẳng hiểu họ nói gì và nhắm vào ai. Cũng có vài bài nói về những người đang bị giam cầm vì tội tuyên truyền chống phá Nhà nước, nhưng cũng chẳng rõ ràng gì cả. Nhưng trên trang nhà của Quảng Ninh có đăng “Chỉ thị số 34-CT/TW của Ban Bí thư về Tăng cường cuộc đấu tranh chống âm mưu, hoạt động ‘Diễn biến hoà bình’ trên lĩnh vực tư tưởng, văn hoá” thì sẽ hiểu báo QĐND đang nói cái gì.

http://www.quangninh.gov.vn/So-GDDT/apm_sgd/0020d0.aspx

Trong đề cương này, có nhiều chỗ người soạn thảo dùng chữ “chúng”, chẳng biết chỉ ai. Có lẽ để chỉ những người không cùng quan điểm với Đảng chăng? Nhưng nhận định sau đây thì có lẽ “chúng” ở đây là Mĩ: “Chúng tập trung vào “chiến lược con người” để đào tạo một lớp người thân Mỹ và phương Tây. Mỹ đã bộc lộ rõ ý đồ lợi dụng hợp tác giáo dục, đào tạo để chuyển hoá Việt Nam. Đến nay chỉ riêng Mỹ đã có 15 chương trình, dự án lớn có liên quan đến lĩnh vực giáo dục - đào tạo đang triển khai ở Việt Nam. Ngân sách của chính phủ Mỹ dành cho các chương trình Fulbringt Việt Nam tăng lên 4 triệu USD/ năm, còn “Quỹ giáo dục Việt Nam” mỗi năm dành 5 triệu USD cấp cho 100 sinh viên Việt Nam học tại Mỹ, Đại sứ quán Mỹ ráo riết triển khai dự án “Góc Hoa Kỳ” nhằm quảng bá với lớp trẻ hình ảnh nước Mỹ, lối sống Mỹ. Các cơ quan hoạch định chiến lược của Mỹ đưa ra bản “lộ trình 4 bước”, trong đó bước 4 có nội dung các trường đại học Mỹ được khuyến khích mở các cơ sở tại Việt Nam.”

Và báo chí và phản biện: “[…] Thời gian qua, có một số lãnh đạo và báo chí, phóng viên đã bộc lộ tư tưởng báo chí đối lập với Đảng, quá nhấn mạnh vai trò “phản biện” và lạm dụng “quyền lực xã hội” để đưa các bài viết công kích sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.”

Chẳng thấy nói gì đến việc phim ảnh Hàn Quốc tràn lan hiện nay ở Việt Nam. Cũng chẳng thấy nói gì đến phim ảnh nhảm nhí của Trung Quốc phủ đầy làn sóng tivi Việt Nam. Những phim ảnh đó, sản phẩm văn hóa đó cũng theo phong cách phương Tây đó chứ! Vậy thì tại sao lại lo ngại chuyện Mĩ giúp về giáo dục và đào tạo, mà tôi nghĩ là họ có ý tốt chứ chắc chẳng có "diễn biến hòa bình" gì cả. Vấn đề là bản lĩnh văn hóa của mình. Văn hóa mình yếu thì mình cảm thấy bị đe dọa, nhưng nếu văn hóa mình mạnh thì chẳng phải lo lắng xâm lăng văn hóa từ đâu cả.

Hình như Ban tuyên giáo giả định rằng ai theo học ở Mĩ cũng đều bị "nhiễm" văn hóa Mĩ và lối sống phương Tây, nhưng tôi ngờ rằng giả định này không hẳn đúng. Tôi sống và làm việc ở ngoài này cả gần 30 năm mà tôi vẫn là người Việt Nam, tôi vẫn nói tiếng Việt, vẫn ăn thức ăn Việt, vẫn mang trong người tình cảm Việt, tôi không sống theo phương Tây. Dù rằng trong thực tế cũng có vài người chạy theo và bị phương Tây "cảm hóa", nhưng số này không nhiều và phần đông là trẻ tuổi, nhưng một thời gian sau thì họ lại quay về với nguồn cội.

Mà, nếu có cách suy nghĩ theo phương Tây hay làm việc theo phong cách phương Tây thì có gì là sai hay xấu xa đến nỗi phải lên án chứ? Phương Tây cũng có nhiều (rất nhiều) điều để chúng ta học hỏi từ họ. Trong quá trình hội nhập, tôi lại nghĩ Việt Nam cần nhiều người có kinh nghiệm cọ xát với văn hóa phương Tây. Cứ nhìn sang Hàn Quốc, Nhật, hay Đài Loan thì thấy: những người du học ở phương Tây và Mĩ là động lực quan trọng để phát triển kinh tế và khoa học.

Có khi, chính sự bảo thủ của ta làm cho ta tụt hậu và khó hội nhập thế giới. Cứ nhìn qua những quan chức Việt Nam đi công tác nước ngoài thì thấy là chúng ta "lép vế" như thế nào. Khả năng Tiếng Anh còn quá kém, làm chọ họ thụ động, không phát biểu được điều gì hay ho. Còn phong cách hành xử theo kiểu truyền thống Á châu thì không hợp với cộng đồng quốc tế. Chẳng nói gì xa xôi, ngay cả cách ăn mặc của một số lãnh tụ chính trị Việt Nam khi phó hội quốc tế cũng thấy rằng họ có quá nhiều sơ hở, có khi làm người ta cười cho.

Khổ thiệt! Chiến tranh lạnh đã qua lâu rồi, mà hình như ở VN vẫn còn những người suy nghĩ rất nóng. :-) Với cái nhìn này thì những bàn thảo về đại học đẳng cấp quốc tế, cải cách giáo dục, hội nhập khoa học, này nọ … sẽ rất khó dẫn đến hiệu quả nào.

Điều đáng buồn là thời đại này mà Ban tuyên giáo vẫn còn nói theo kiểu "chúng" và "ta", chẳng khác gì giữa kẻ thù và ta. Ngày nay, người ta không quan tâm đến chuyện anh theo chủ thuyết gì mà là anh là ai. Khi tôi đi dự hội nghị ở nước ngoài (như tôi thuật lại), ít ai hỏi tôi VN bây giờ là XHCN hay gì gì, mà là "anh là người Việt Nam hả"? Tôi nghĩ đó là một sự chuyển biến từ ý thức hệ sang căn cước tính. Mà, đặc tính để xác định căn cước chính là dân tộc và tôn giáo, hay nói chung là "văn hóa". Thành ra, cái mà chúng ta cần là trang bị cho mình một bản lĩnh văn hóa, chứ không phải những giáo điều chính trị.